Lớp 11

Chứng minh: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người

Nghị luận Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người – Tuyển tập 3 bài văn hay nhất chứng minh nhận định “Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người” qua đoạn trích Tình yêu và thù hận.

Top 3 bài văn mẫu hay chứng minh Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người

Bài chứng minh số 1:

 Rô-mê-ô và Giu-li-ét là vở bi kịch nổi tiếng gồm 5 hồi bằng thơ xen lẫn văn xuôi, nội dung dựa trên một câu chuyện có thật về mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét ở thành phố Vê-rô-na nước Ý thời trung cổ. Bi kịch bắt đầu từ tình yêu sét đánh giữa chàng Rô-mê-ô và nàng Giu-li-ét, hai đứa con của hai dòng họ thù nghịch. Bất chấp mọi trở lực, họ đến với nhau bằng trái tim nồng nhiệt, đắm say.

Bạn đang xem: Chứng minh: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người

Để có thể chạy trốn cùng người yêu, Giu-li-ét đã chấp nhận làm theo kế hoạch của tu sĩ Lâu-rân là uống thuốc ngủ giả chết để chờ Rô-mô-ô đến đón tại hầm mộ nhà nàng. Vì sự chậm trễ của người báo tin và sự hiểu lầm của người nhà Rô-mê-ô nên chàng tưởng là nàng đã chết. Đau đớn khôn cùng, Rô-mê-ô đã uống thuốc độc tự tử bên cạnh người yêu. Tỉnh dậy, thấy Rô-mê-ô đã chết, Giu-li-ét tiền rút con dao mà chàng luôn mang theo bên người để quyên sinh. Cái chết bi thảm của đôi trai tài gái sắc đã làm cho mọi người rung động và thức tỉnh. Mối thù dai dẳng tưởng không bao giờ có thể hoà giải được giữa hai dòng họ đã bị xoá bỏ. Họ cùng nhau dựng một tượng đài bằng vàng để mãi mãi ca ngợi tình yêu trong sáng, thuỷ chung của cặp tình nhân nổi tiếng này.

Đoạn trích Tình yêu và thù hận kể về cảnh Rô-mê-ô sau cuộc gặp gỡ với Giu-li-ét ở dạ hội hoá trang tại nhà nàng, chờ lúc đêm khuya đã quay trở lại, leo lên bức tường đối diện với phòng ngủ của Giu-li-ét để thổ lộ lòng mình. Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời tâm trạng của hai người trẻ tuổi vừa bị trúng mũi tên của thần Ái tình Cupid. Mối thù truyền kiếp của hai dòng họ không thể ngăn cản tình yêu mãnh liệt ấy. Thái độ của tác giả là đồng tình và ca ngợi, bởi: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người.

Rô-mê-ô choáng váng trước vẻ đẹp thánh thiện của Giu-li-ét nên trái tim đã thôi thúc chàng quay trở lại khu vườn nhà nàng, dẫu biết rằng điều đó là vô cùng nguy hiểm. Đúng lúc ấy, Giu-li-ét cũng đến bên cửa sổ trông xuống khu vườn để thổ lộ lòng mình. Chúng ta hãy nghe Rô-mê-ô bày tỏ cảm xúc thật lãng mạn mà cũng thật chân thành khi nhìn thấy Giu-li-ét. Trước đôi mắt của kẻ si tình thì vẻ đẹp của cô gái mình yêu là tuyệt vời hơn tất thảy: …

Ánh sáng nào vừa loé trên cửa sổ kia? Đấy là phương đông, và nàng Giu-li-ét là mặt trời! – Vừng dương đẹp tươi ơi, hãy hiện lên đi… Đấy là người ta quý. Ôi! Đấy là người ta yêu! Ôi, giá nàng biết nhỉ!… Vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các vì tinh tú ấy phải hổ ngươi, như ánh sáng ban ngày làm cho đèn nến phải thẹn thùng; còn cặp mắt nàng trên bầu trời sẽ rọi khắp không gian một làn ánh sáng tưng bừng đến nỗi chim chóc sẽ lên tiếng hót vang… Hỡi nàng tiên lộng lẫy, hãy nói nữa đi! Bởi đêm nay, nàng toả ánh hào quang, trên đầu ta, như một sứ giả nhà trời có cánh, đang cưỡi những áng mây lững lờ lướt nhẹ trên không trung, khiến những kẻ trần tục phải cố ngước đôi mắt… lên mà chiêm ngưỡng.

Khi Giu-li-ét nghĩ đến Rô-mê-ô thì điều đầu tiên khiến nàng băn khoăn là mối thù lâu đời giữa hai dòng họ, nhưng mối thù ấy không thể ngăn cản nàng đến với tình yôu, với người yêu: Ôi, Rô-mê-ô, chàng Rô-mê-ô! Sao chàng lại là Rô-mê-ô nhỉ? Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi; hoặc nếu không thì chàng hãy thề là yêu em đi, và em sẽ không còn là con cháu nhà Ca-piu-lét nữa.

Tình yêu sét đánh khiến hai người sống trong tâm trạng bay bổng, say đắm, tuy nhiên ở họ vẫn còn sự dẫn dắt sáng suốt của lí trí. Những diễn biến trong tâm trạng Giu-li-ét chứng tỏ Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời người thiếu nữ đang yêu: Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi. Nếu chẳng phải là người họ Môn-ta-ghiu thì chàng cũng vẫn cứ là chàng. Môn-ta-ghiu là cái gì nhỉ? Đó đâu phải là bàn tay, hay bàn chân, hay cánh tay, hay mặt mũi, hay một bộ phận nào đấy của cơ thể con người. Chàng ơi! Hãy mang tên họ nào khác đi! Cái tên đó có nghĩa gì đâu? Bông hồng kia, giá chúng ta gọi bằng một tên khác thì hương thơm cũng vẫn ngọt ngào. Vậy nếu chàng Rô-mê-ô chẳng mang tên Rô-mê-ô nữa, thì mười phân chàng vẫn vẹn mười… Rô-mê-ô chàng ơi, chàng hãy vứt bỏ tên họ của chàng đi; chàng hãy đem tên họ ấy, nó đâu phải xương thịt của chàng, đổi lấy em đây! Trong câu nói ấy của Giu-li-ét chứa đựng quyết tâm vượt qua mọi trở lực ghê gớm và mong muốn Rô-mê-ô hãy quên đi mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ để đến với mình.

Giữa hai tâm hồn có một sự đồng điệu kì diệu. Nghe Giu-li-ét nói như vậy, Rô-mê-ô mừng vui khôn xiết, chàng tiếp tục bày tỏ: Đúng là miệng em nói thế đấy nhé! Chi cần em gọi tôi là người yêu, tôi sẽ thay tên đổi họ; từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa… Khi Giu-li-ét thắc mắc: Người là ai, mà khuất trong đêm tối, chợt biết được điều tôi ấp ủ trong lòng? Thì Rồ-mê-ô vội vàng lên tiếng: Tôi không biết xưng danh cùng em thế nào. Nàng tiên yêu quý của tôi ơi, tôi thù ghét cái tên tôi, vì nó là kẻ thù của em. Nếu chính tay tôi đã viết tên đó, thì tôi xé nát nó ra.

Nhận ra giọng nói của Rô-mê-ô, Giu-li-ét vừa sung sướng lại vừa lo lắng: Tai tôi nghe chưa trọn một trăm tiếng thốt từ miệng đó ra mà tôi đã nhận ra tiếng ai rồi. Chẳng phải anh Rô-mê-ô, và là họ nhà Môn-ta-ghiu đấy ư?… Anh làm thế nào tới được chốn này, anh ơi, và tới làm gì thế? Tường vườn này cao, rất khó trèo qua; và nơi tử địa, anh biết mình là ai rồi đấy, nếu anh bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây.

Nghe lời cảnh báo về mối nguy hiểm chết người ấy mà chàng Rô-mê-ô si tình vẫn khăng khăng khẳng định và thách thức: Tôi vượt được tường này là nhờ đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu; mấy bức tường đá ngăn sao được tình yêu; mà cái gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm; vậy người nhà em ngăn sao nổi tôi. Như vậy là tình cờ mà cả chàng và nàng đều cho rằng tình yêu của họ chỉ diễn ra trong hoàn cảnh hai dòng họ thù địch chứ không xung đột với hận thù truyền kiếp. Tình yêu nồng nàn, mãnh liệt ấy là hoàn toàn tự nhiên, chính đáng. Rừng rực như lửa cháy, nó thiêu rụi mọi định kiến nghiệt ngã, mọi ngăn trở phi lí để những người đang yêu đến được với nhau.

Sếch-xpia ca ngợi tình yêu vì tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp và kì diệu nhất của con người. Có một thi sĩ đã nói: Không có tình yêu hoa không nở. Nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu say đắm thốt lên: Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi, Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu cũng sáng tác những vần thơ bất hủ ca ngợi tình yêu: Có gì đẹp trên đời hơn thế, Người yêu người sống để yêu nhau. Tình yêu đã, đang và sẽ mãi mãi tồn tại vì nó là nền tảng của cuộc sống nhân loại trên Trái Đất này.

Bài chứng minh số 2:

“Rô-mê-ô và Giu-li-ét” là vở bi kịch nổi tiếng của sếch-xpia, nhà thơ, nhà viết kịch thiên tài của nước Anh và của nhân loại. Vở bi kịch dựa trên xung đột giữa khát vọng yêu đương mãnh liệt với hoàn cảnh thù địch vây hãm. Mối tình của họ khẳng định sức sống, sức vươn dậy vượt lên trên mọi hoàn cảnh trói buộc con người, mối tình đó cũng là lời kết án đanh thép, tố cáo thành kiến phong kiến, nguyên nhân thù hận của tình người, của chủ nghĩa nhân văn. Với những gì được thể hiện trong tác phẩm cũng như qua đoạn trích “Tình yêu và thù hận” có một chân lý đã được chứng minh: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người.

Đề tài tình yêu xưa nay vẫn là đề tài nhận được nhiều sự ưu ái của con người, đặc biệt là người nghệ sĩ. Đó là một thứ tình cảm thể hiện tính nhân văn, nhân dạo cao cả. Tình yêu có rất nhiều cung bậc khác nhau và nó có sức mạnh làm thay đổi cuộc sống. Một tình yêu chân chính là tình yêu mà con người ta đến với nhau hoàn toàn trong sáng, bằng tình cảm chân thành, thực sự, không tính toán, vụ lợi. Tình yêu chân chính còn là biết trở thành động lực của nhau, giúp nhau vượt qua khó khăn. Người ta nói rằng: Ca ngợi tình yêu chân chính cũng chính là khẳng định con người, cũng là vì như vậy. Trước hết vì tình yêu đó là một tình cảm hết sức tự nhiên của con người. Con người sinh ra dã biết yêu: yêu gia đình, người thân, yêu bạn bè, yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa. Đó là những tình cảm mang đầy tính nhân bản bởi vậy nên khẳng định tình yêu, đó cũng chính là khẳng định con người. Hơn thế nữa, những người có thể có được tình yêu trong sáng, đích thực, chân chính với người khác thì hẳn đó cũng sẽ là biểu hiện cho một tâm hồn đẹp. Và họ cũng xứng đáng để nhận được sự ngợi ca.

Ca ngợi về tình yêu, sếch-xpia đã đặt nó trong một hoàn cảnh nghiệt ngã: đó là tình yêu của hai con người nảy sinh trong mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ, qua đó nó càng được thử thách và tỏa ra ánh hào quang rạng ngời. Rô-mê -ô và Giu-li-ét, hai người đến với nhau hoàn toàn tự nguyện, vì những mối tình cảm nảy nở không sao cưỡng lại được. Họ đã không để cho những định kiến vốn có của hai gia đình ảnh hưởng đến tình yêu của mình. Tình yêu của họ nảy nở và bùng lên một cách mãnh liệt. Ngay trong đêm gặp đầu tiên ở lễ hội hóa trang, Giô-mê-ô đã quay trở lại để gặp Giu-li-ét, đúng lúc Giu-li-ét cũng đang đứng bên cửa sổ để thổ lộ tình cảm với người mình yêu. Những lời độc thoại của nhân vật được dẫn ra dưới hình thức của một lời dẫn chuyện khiến cho người ta phải cảm động bởi mối tình si mê mà Rô-mê-ô giành cho Giu-li-ét: “Ánh sáng nào vừa lóe trên cửa sổ kia? Đấy là phương Đông và nàng Giu-li-ét là mặt trời! – Vừng dương đẹp tươi ơi, hãy hiện lên đi và giết chết ả Hằng Nga đố kị héo hon, nhợt nhạt vì đau buồn khi thấy cô hầu của ả lại đẹp hơn cả rất nhiều (…) chẳng qua hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhờ mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về..”.. Cuộc gặp gỡ, đối thoại và độc thoại của hai người được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng tuyệt đẹp như để tôn thêm vẻ đẹp của mối tình, của những người đang chìm đắm trong yêu thương, vượt lên trên tất cả những thù hận đang đe dọa, rình rập phía trước. Bối cảnh đêm khuya – trăng sáng với màn đêm thanh vắng và vầng trăng trên trời cao đã tạo ra chiều sâu cho sự bộc lộ tình cảm của đôi tình nhân. Thiên nhiên được nhìn từ điểm nhìn của nhân vật, là thiên nhiên hòa cảm, đồng tình, trân trọng và chở che. Trong đôi mắt của người đang yêu, Giu-li-ét hiện ra như một nàng tiên lộng lẫy, “tỏa ánh hào quang, trên đầu ta như một sứ giả nhà trời có cánh”. Đây là cảm xúc của người đang yêu và được tình yêu đáp lại, cũng lạ sự cộng hưởng kỳ lạ và tuyệt vời trong tâm hồn của những người đang yêu mà sếch-xpia đã quan sát và nhận biết được. Đó là một tình yêu chân thành, không toan tính, vụ lợi mà rất hồn nhiên trong trắng được cái đẹp của bối cảnh làm nền.

Tình yêu dẫu mãnh liệt nhưng đau đớn thay vẫn không thể thoát hỏi những ám ảnh về lòng thù hận. Nỗi ám ảnh này xuất hiện trong suy nghĩ của Giu-li-ét nhiều hơn, cho thấy nỗi lo lắng của nàng. Trong đoạn trích, đã có tới năm lần trong cả đối thoại lẫn độc thoại nàng bị nỗi ám ảnh đó đeo bám. Tình yêu trắc trở về sự hận thù, sự nhận thức đó khiến cho Giu-li-ét băn khoăn, day dứt, đứng trước những tâm trạng rối bời. Nàng đã không ngần ngại thổ lộ tình yêu mãnh liệt với chính bản thân mình. Nàng tự đặt mình vào trong tất cả những nỗi băn khoăn, ám ảnh rồi lại tự tìm cách trả lời để tự trấn an chính mình. (“Chàng hãy khước từ cha và từ chối dòng họ của chàng đi”; “Chỉ có tên họ chàng là thù địch với em thôi”; “Nơi tử địa”; “Họ mà bắt gặp anh”; “Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây”. Với linh cảm của một người phụ nữ, Giu-i-ét đã dự cảm thấy trong tình yêu mình những sóng gió, và nàng lo sợ, không chỉ cho mình mà còn cho người mình yêu. Còn với Giô-mê-ô, chàng sẵn sàng từ bỏ tên họ của mình để có thể đến được với người mình yêu và của chính Rô-mê-ô (“Từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa”; “tôi thù ghét cái tên của tôi”; “càng phải Giô-mê-ô cũng chẳng phải Mông-ta-ghiu”). Nhưng vượt lên trên tất cả, mối quan tâm lớn nhất của họ lại là việc liệu tình cảm của người kia giành cho mình như thế nào? Tình yêu mãnh liệt đến độ cả hai vẫn ý thức được sự thù hận nhưng giờ đây nỗi lo chung của hai người là lo họ không được yêu nhau, họ không có được tình yêu của nhau. Cả hai đều nhắc tới hận thù nhưng không nhằm khoét sâu thêm hận thù mà con hướng tới vượt lên trên hận thù, bất chấp hận thù. Có thể nói, trong đoạn trích này, tình yêu đã không xung đột với thù hận mà chỉ diễn ra trên nền thù hận. Thù hận bị đẩy lùi, bị xóa đi vĩnh viễn, chỉ còn lại tình người, tình đời bao la, phù hợp với lý tưởng nhân văn.

Tình yêu của Giô-mê-ô và Giu-li-ét, đặt trong thời đại Phục hưng, càng có giá trị trong việc ngợi ca và khẳng định con người. Hai con người đó, họ đã sống với tất cả những tình cảm tự nhiên và chân thực nhất của mình, vượt lên trên mọi hoàn cảnh nghiệt ngã, éo le, vượt lên trên thù hận. Tình cảm của họ vượt lên trên bóng tôi của màn đêm trung cổ để tỏa ra ánh hào quang rực rỡ. Qua tình yêu đó, Sêch-xpia ca ngợi vẻ đẹp trần thế của con người, ca ngợi hạnh phúc do chính con người tạo ra chứ không phải là thứ hạnh phúc hư ảo do chúa trời ban phát. Không chỉ vậy, qua đề tài tình yêu tác giả cũng lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của người phụ nữ. Họ có quyền được yêu và thể hiện tình yêu của mình. Kết. thúc vở kịch, hai người yêu nhau cuối cùng cũng đã được ở bên nhau. Họ đã sống hết lòng trong tình yêu và cũng đã có thể chết vì tình yêu. Và cuối cùng, sức mạnh của tình yêu chân chính đã chiến thắng. Hai dòng họ đã tự nguyện xóa đi mối thâm thù truyền kiếp để sống với nhau trong hòa bình. Tình yêu chân chính đã có sức mạnh nối kết con người lại với nhau, xóa đi mọi thành kiến lạc hậu hay hận thù chia rẽ con người; tình yêu làm cho tình người được nối lại; tình yêu nâng đỡ, cổ vũ cho con người tạo nên lẽ sống: “Sống là yêu thương” và do đó, đó luôn là một tình cảm thể hiện tính nhân văn cao đẹp của con người, trong mọi thời đại.

Đoạn trích cũng như toàn vở bi kịch là câu chuyện tình yêu vượt lên trên thù hận của Giô-mê-ô và Giu-li-ét. Thông qua mối tình đích thực ấy, Sếch-xpia đã ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp của tình người, của tình dời theo lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn. Tác phẩm chứng minh cho một chân lý có ý nghĩa không chỉ trong thời đại bây giời: “Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người”.

Bài chứng minh số 3:

Tình yêu là vấn đề muôn thuở của văn học, của con người trong mọi thời đại, trong mọi nền văn học. Nói đến con người là nói đến khát vọng tình yêu bởi vì tình yêu là tình cảm thiên liêng, thể hiện con người và tâm hồn con người một cách sinh động và chính xác nhất. Cho nên, ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng là khẳng định con người. Đây là một ý kiến đúng đắn.

Đoạn trích “Tình yêu và thù hận” là câu chuyện tình yêu của chàng Rô-mê-ô và nàng Giu-li-ét, tác giả đã miêu tả tuyệt vời tâm trạng của hai người trẻ tuổi yêu nhau vì tiếng sét ái tình nhưng mối thù truyền kiếp của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét đã cản trở tình yêu ấy, nhưng sức mạnh của tình yêu mãnh liệt đã giúp họ vượt lên trên mọi hận thù khổ đau để khẳng định tình yêu vững vàng, cũng chính là khẳng định giá trị con người dám nghĩ dám làm, dám yêu.

Sáu lời thoại đầu là lời độc thoại nội tâm của nhân vật, tác giả để hai nhân vật của mình tự thổ lộ tâm sự tình cảm của mình và qua đó thể hiện mối tình đắm say, nồng nàn của đôi nam nữ. 10 lời thoại còn lại là lời đối thoại giữa 2 nhân vật. Những lời đối thoại trực tiếp nhưng cũng đầy chất thơ, thể hiện tình cảm đôi bên. Vẻ đẹp của Giu-li-ét được miêu tả qua ngôn ngữ lãng mạn của chàng Rô-mê-ô. Nàng Giu-li-ét đã vượt lên trên mọi sự ràng buộc, mọi quy định khắc khe, quy tắc khó khăn của gia đình quý tộc, nàng đã mạnh dạn nói lên tình yêu chân thành đắm say của mình với chàng Rô-mê-ô. Thể hiện một tình yêu chân chính, dám nghĩ dám yêu, dám bày tỏ tiếng nói tâm tư của mình.

Những thế lực, những thành kiến đầy cổ hủ của mối quan hệ phong kiến dần dần không còn hiệu nghiệm nữa nhờ vào lời thề hẹn của hai nhân vật. Một lời thề quan trọng, đánh dấu thời đại trung cổ đang tự phá bỏ, tự tan rã, con người được giải phóng. Mối tình đẹp như mơ của Rô-mê-ô và Giu-li-ét được lột tả rõ nét bằng bút pháp lãng mạn và chất liệu hiện thực.

Trong đoạn trích, ta không hề thấy bất kì một sự xung đột nào giữa hai dòng họ, giữa hai người mà chỉ có tình yêu trong sáng, đẹp đẽ pha chút lo lắng bởi xung quanh là cả một bầu trời thù hận. Trong nội tâm nhân vật không hề có sự mâu thuẫn, đấu tranh, dằn vặt gì cả, không hề phân vân giữ tình yêu và thù hận. Họ đã quyết định đến với nhau và sẵn sàng hi sinh cho tình yêu của mình.

Trong cuộc gặp gỡ hội ngộ đầy duyên nợ tại buổi dạ hội, tiếng sét ái tình với Giu-li-ét đã dìu bước chân chàng quay trở lại, Rô-mê-ô vượt rào nhà của Giu-li-ét để được đến bên cạnh nàng. Ánh trăng sáng huyền diệu là minh chứng chứng kiến cuộc tình lãng mạn, được nghe những nói nói ngọt ngào yêu thương cháy bỏng được thốt ra từ hai con tim đồng điệu chung tình.

Ở lời thoại đầu tiên: “Kẻ chưa từng bị thương thì há sợ gì sẹo”, Rô-mê-ô đã dành trọn con tim yêu cho nàng Giu-li-ét, chàng dùng những lời đường mật miêu tả vẻ đẹp của nàng làm trái tim ai nghe thấy cũng tan chảy. “Đấy là phương đông, và nàng Giu-li-ét là mặt trời!”. Chàng đã so sánh nàng với mặt trời bằng từ “là”, và đến Hằng Nga cũng phải ghen và đố kị “Vừng dương đẹp tươi ơi, hãy hiện lên đi, và giết chết ả Hằng Nga đố kị, héo hon và nhợt nhạt vì đau buồn khi thấy cô hầu cửa của ả lại đẹp hơn ả rất nhiều.” Chàng độc thoại nội tâm nhưng dường như chàng đang đối thoại với chính con tim yêu của mình. “Ôi! Đấy là người ta yêu! Ôi, giá nàng biết nhỉ!” Rô-mê-ô choáng ngợp trước nhan sắc tuyệt trần của nàng.

Tác giả đã giúp nhân vật của mình thể hiện cái nhìn từ bao quát đến chi tiết, chàng đi sâu vào thể hiện vẻ đẹp trong đôi mắt lung linh yêu kiều của nàng: “Đôi mắt nàng lên tiếng, ta sẽ đáp lời.” và chàng cho rằng “chẳng qua hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhờ ánh mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về.” Rô-mê-ô đã dùng những so sánh phóng đại cường điệu vẻ đẹp của nàng Giu-li-ét, nàng đẹp như một vì sao lấp lánh sáng chói lung linh trên bầu trời cao kia. Chàng đã say đắm, choáng váng trước vẻ đẹp đầy thánh thiện của Giu-li-ét. Chàng đặt ra hàng loạt câu hỏi nhưng chẳng cần giải đáp, những suy tư, nôn nao, rợn ngợp trước vẻ đẹp kiêu sa lộng lẫy của Giu-li-ét. “vậy là gì thế?”, “sao xuống nằm dưới đôi lông mày kia thì thế nào nhỉ?”, … Chàng miêu tả nàng một cách tự nhiên nhất như một hình tượng hoàn hảo về người phụ nữ nhan sắc vẹn toàn. Chàng tiếp tục say đắm với đôi gò má quyến rũ: “Vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các vì tinh tú ấy phải hổ ngươi, như ánh sáng ban ngày làm cho đèn nến phải thẹn thùng; còn cặp mắt nàng trên bầu trời sẽ rọi khắp không gian một làn ánh sáng tưng bừng đến nỗi chim chóc sẽ lên tiếng hót vang và tưởng là đêm đã ta.” Chàng còn nguyện ước mình là đôi bao tay để nàng có thể tì má lên và chàng sẽ được mơn trớn gò má ấy của nàng. Qua những lời thoại ấy, cho thấy tâm trạng Rô-mê-ô khá đơn giản, nó hợp lí theo một mạch liên tưởng và những so sánh phù hợp với một khung cảnh đêm khuya lãng mạn như thế. Chàng không chút đắn đo, sẵn sàng từ bỏ họ tên để đến với tình yêu. Tình yêu của Rô-mê-ô đối với nàng Giu-li-ét vô cùng mãnh liệt, cháy bỏng khát khao có được một tình yêu chân chính, đích thực. Tình yêu của đôi nam nữ nảy sinh trong hoàn cảnh vô cùng éo le, khốn cùng. Đó là mối thù hận truyền kiếp qua bao đời của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét, tại Vê-rô-na (I-ta-li-a) thời trung cổ.

Có lẽ vì thế mà diễn biến tâm trạng của Giu-li-ét được thể hiện vô cùng phức tạp, rối rắm. “Ôi chao!”, nàng lo lắng rã rời, là tiếng thở dài, là một thời than vãn trong một tâm trạng đầy âu lo, bồn chồn, nôn nao về mối hận thù giữa hai dòng họ. Nàng ý thức về những khó khăn, trắc trở làm con đường đi tới tình yêu càng dài hơn. Nàng khát vọng về một tình yêu đích thực. Giu-li-ét tuổi đời chưa đầy 15 tuổi nhưng nàng đã rất chín chắn trong suy nghĩ, nàng có thể cảm nhận được những khó khăn có thể đến với tình yêu của mình nên đã nhận thức rõ và thể hiện sự lo lắng của mình.

Giu-li-ét đang trực tiếp thổ lộ tình yêu của mình, không hề giấu giếm, ngại ngùng. Điều này chứng minh một điều rằng tình yêu của nàng dành cho Rô-mê-ô cũng vô cùng mạnh mẽ và nồng cháy. Nàng không hề cố tình chủ động thổ lộ tiếng lòng mà do vô tình đã có người thứ ba nghe được. “Người là ai, mà khuất trong đêm tối, chợt biết được điều tôi ấp ủ trong lòng?”

Khi nàng phát hiện có người nghe được tâm sự, tâm tư tình cảm của mình, Giu-li-ét chỉ bình thản, nhẹ nhàng chứ không hốt hoảng, sợ hãi, lúng túng hay lo lắng. Vì nàng nhận ra tiếng của chàng Rô-mê-ô, lúc này nàng đang rất cần một người để chia sẻ, tâm sự, muốn có ai đó thấu hiểu những nỗi lòng của mình. Trong lời thoại, nàng đã nhắc đến tên Rô-mê-ô và tên dòng họ Môn-ta-ghiu bởi lẽ mối thù hận của hai dòng họ đã ám ảnh lấy tâm trí của nàng, hẳn là nàng đã vô cùng mệt mỏi, đau đớn vì tình yêu chia cắt. Rô-mê-ô nói với nàng rắng “Nàng tiên yêu quý của tôi ơi, tôi thù ghét cái tên tôi, vì nó là kẻ thù của em. Nếu chính tay tôi đã viết tên đó, thì tôi xé nát nó ra.” Chính chàng cũng hiểu được nỗi khổ khi phải chứng kiến sự chiến tranh mâu thuẫn của hai dòng họ, chàng muốn bỏ cả tên họ để chứng tỏ tình yêu sâu đậm của chàng. Chàng vượt tường rào, vượt mọi nguy hiểm để đến gặp nàng là “nhờ đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu” và chàng khẳng định mấy vách tường kia không thể ngăn cản được tình yêu chảy bỏng của chàng. Chàng chẳng sợ cái chết vì “ánh mắt của em còn nguy hiểm cho tôi hơn hai chục lưỡi kiếm của họ”. Lời thoại ấy là một tình huống có vẻ không cần thiết lắm nhưng lại có dụng ý cả. Giu-li-ét muốn chính miệng Rô-mê-ô thổ lộ tình cảm của mình. Tâm trạng của Giu-li-ét phức tạp hơn Rô-mê-ô nhưng lại phù hợp và tâm lí của người con gái đang yêu, thể hiện sự chín chắn của tình yêu. Nàng thể hiện rõ tình yêu của mình, yêu Rô-mê-ô tha thiết nhưng không biết tình cảm của chàng thế nào, nàng sẵn sàng từ bỏ dòng họ để theo chàng và lại tự hỏi không biết Rô-mê-ô có chấp nhận vượt qua hận thù để đến bên nàng hay không. Giu-li-ét yêu Rô-mê-ô tha thiết, nhưng với trái tim của một người phụ nữ nhạy cảm, nàng lo lắng cho mối tình của mình và Rô-mê-ô vì nàng yêu chàng say đắm, muốn chàng là một nửa cuộc đời còn lại. Nàng sẵn sàng vượt qua mọi rào cản để giành lấy tình yêu cho riêng mình.

Mối hận thù giữa hai dòng họ không xung đột với tình yêu mà ngược lại, làm nên một tình yêu đủ mạnh mẽ, bền vững của Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Cả hai nhân vật đã bất chấp hận thù, vượt lên trên tất cả để nắm tay nhau, để đến với nhau. Xung đột của vở kịch xảy ra ngay trong tim, ngay cả trong suy nghĩ và nó đã chi phối thành hành động. Ta có thể thấy sự xung kịch được nảy ra là “tình yêu và thù hận”, tình yêu của đôi nam nữ trẻ tuổi mâu thuẫn trái ngược với thù hận của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét đã gây biết bao cản trở, chật vật, đau đớn. Nhưng có lẽ tình yêu của họ quá đỗi lớn lao vượt lên trên tất cả những tầm thường của cuộc sống để cùng cất cánh bay lên không một chút băn khoăn, đắn đo.

Lời thoại cuối cùng đã giúp cho tình yêu và thù hận được giải quyết bằng sức mạnh phi thường của con tim, của yêu thương trong sáng, mãnh liệt. Cuối cùng, lòng thù hận đã bị xóa vĩnh viễn, chỉ còn tình người bao la. Đây là cốt lõi của tư tưởng nhân văn. Tác giả đã ca ngợi tình yêu trong sáng của Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Khát khao về một tình yêu cháy bỏng luôn thường trực trong trái tim con người nhưng không phải ai cũng đủ dũng cảm mạnh mẽ để đến với tình yêu, để hi sinh giữ lấy tình yêu của mình. Sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách được tạo ra bởi sự cộng hưởng, kết hợp hài hào giữa hai trái tim, khi nó đủ sức ấm, sức nóng sẽ đốt cháy mọi rào cản, chỉ còn lại những gì đẹp đẽ, bay bổng của tình yêu.

Sếch-xpia đã ca ngợi một tình yêu đầy dũng cảm, chín chắn, là một thứ tình cảm vô cùng đẹp, lung linh nhưng rất khó đoán và đáng trân quý của con người. Chúng ta dành cả cuộc đời để đi tìm một nửa của đời mình, tình yêu giúp ta thăng hoa và khẳng định được bản thân mình trong cuộc sống. Nội dung tác phẩm của ông luôn là tiếng nói của lương tri tiếng bộ, của khát vọng tự do, của lòng nhân ái, của niềm tin bất diệt vào khả năng hướng thiện và khả năng vươn dậy để khẳng định giá trị cuộc sống của con người. Rất phù hợp với nội dung tư tưởng của “Tình yêu và thù hận”, một nhà văn đã từng nói: “Tình yêu xuất phát từ cảm xúc của hai tâm hồn người và do đó chỉ có những người đang yêu mới cảm nhận được hết tình yêu.”

Trên đây là #3 bài văn hay nhất chứng minh nhận định: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người. Để nắm vững những chi tiết cần phân tích cho đề bài này, các em có thể tham khảo lại bài soạn Tình yêu và thù hận đã được học và phân tích trên lớp.

Chúc các em học tốt !

[Văn mẫu 11] Những bài văn nghị luận hay chứng minh nhận định: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người.

Đăng bởi: THPT Long Xuyên

Chuyên mục: Giáo Dục Lớp 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!